Phải khó khăn lắm, chúng tôi mới vào được túp lều dựng tạm trên thửa đất của cô con gái đã nuôi mẹ suốt những năm tháng dài đằng đẳng.
Bà Hoàng Thị Môn (sinh năm 1934), vợ liệt sỹ Nguyễn Xuân Thuần (hi sinh năm 1972 tại mặt trận Quảng Trị), thân hình ốm yếu, đôi mắt mù loà từ trong chòi khó nhọc chống gậy bước ra, gật đầu thay lời chào khách.
Chúng tôi hỏi: “Bà có đi lại được không, ăn uống thế nào, sức khoẻ ra sao?”. “Phải bò thôi các chú, đất đai không có, đứa con rể cho mượn được chút đất ni đành phải dựng nhà lên mà ở, biết mần răng!” - Bà già trả lời một cách khó nhọc.
Chỗ ở quá chật hẹp, không có nơi thờ tự cố đinh, tấm bằng Tổ quốc ghi công được bà Môn đặt ở góc cao nhất
Nhìn dáng bộ tiều tụy và gương mặt thất thần, đoán chừng như bà vừa mới qua một nỗi đau nào quá lớn.
Chị Minh, người con gái đầu cho biết: “Gia đình bao nhiêu năm đi xin đất để làm cho bà một căn nhà nhưng mọi hy vọng hầu như tan biến. Mẹ em không còn nơi nương tựa nào khác. Đây là cái chòi bếp, chúng em phải cố gắng lắm mới dựng được căn nhà cho mẹ ở”.
Còn bà Môn thì nức nở ôn lại quãng đời cơ cực: “Năm 1958, khi ấy tôi vừa 25 tuổi, lấy ông Thuần lúc đó cũng mới gần 30 tuổi. Vợ chồng tôi đều làm nghề nông.
Sau 12 năm xây dựng gia đình với nhau, tôi sinh được bốn đứa con. Đầu năm 1971 có lệnh tổng động viên, ông Thuần đang là cán bộ của xã Cẩm Huy đã theo tiếng gọi thiêng liêng lên đường nhập ngũ. Sau đợt huấn luyện cấp tốc ông vào chiến trường Quảng Trị khói lửa.
Những năm chiến tranh ác liệt vùng đất này bị giặc bắn phá dữ dội, tôi đành bỏ việc ruộng vườn đưa 4 đứa con thơ đi phiêu bạt tìm kế sinh nhai, cày cuốc làm thuê làm mướn nuôi con khôn lớn, chờ ngày chiến thắng đón bố cháu về.
Ngờ đâu, ngày 6/9/1972, nhận được giấy báo tử ông Thuần đã hy sinh ở mặt trận Quảng Trị. Một mình tôi phải bươn chải nuôi 4 con thơ, đứa út chỉ vừa tròn một tuổi...”.
Câu chuyện kể trong nước mắt của bà Hoàng Thị Môn, chắp nối lại hiện lên cả một chuỗi dài đau thương trọn nửa thế kỷ. Niềm hy vọng cuối cùng của bà gửi vào người con trai tên là Nguyễn Xuân Hiên, được cho ăn học hết cấp III, cũng không còn.
Bà Hoàng Thị Môn bên tấm bằng Tổ quốc ghi công của chồng
Từ túp chòi nhỏ, cư trú suốt những năm chiến tranh, bà Môn dắt thêm 4 đứa con đi phiêu bạt khắp nơi. Sau hơn 20 năm tưởng yên thân nơi chôn rau cắt rốn, ngờ đâu năm 2000, bà phát bệnh, ốm mòn tưởng không còn sống nổi.
Sau trận ốm, mắt bà bị mù loà, chân không còn vững để đi lại, bà đành phải về nương tựa vào đứa con gái, toàn bộ gánh nặng lại đổ lên đôi vai chị Minh. Bà Môn không thể ở chung, đành xin con cho ở tạm nơi chòi bếp và giữ bằng tổ quốc ghi công của chồng bên mình.
Cái chòi bếp tạm bợ ở góc đất này không thể làm nơi thờ cúng lâu dài người cha liệt sỹ và ba đứa em trai, chị Minh đã nhờ các cấp các nghành can thiệp tạo điều kiện giúp đỡ. Vậy mà những lời kêu cứu của chị hầu như vô nghĩa.
Hiện tại, bà Môn được Nhà nước trợ cấp hơn 600.000 đồng/tháng, đủ sống nhưng không thể làm được việc gì khác. Sắp bước sang tuổi 80 nhưng bà vẫn phải sống lay lắt trong túp lều ẩm thấp, tạm bợ. Bà không than thân khổ sở, chỉ thương vong hồn ông Thuần và các con không có nơi thờ tự.
Nhìn xóm làng thiên hạ nhà xây tường vôi, mái ngói, sắm bàn thờ tầng tầng lớp lớp mà bà càng thêm tủi. Với bà, gia tài quý giá nhất là tấm bằng tổ quốc ghi công của chồng. Bà đặt nó nơi cao nhất có thể trong nhà và thương xuyên ôm ấp, nâng niu.
Trao đổi với ông chủ tịch xã Nguyễn Đình Tuyết về nguyên nhân vì sao mà suốt hơn 30 năm người vợ liệt sỹ không có chổ thờ phụng sinh sống, ông chủ tịch phân bua: Chúng tôi biết vậy là không đúng với vong hồn người đã khuất, chúng tôi sẽ tạo mọi điều kiện nhanh chóng bố trí đất cho bà Môn.
Hà Tĩnh là một trong những địa phương đi đầu về công tác đền ơn đáp nghĩa; và có lẽ, đây là ngôi nhà tạm bợ duy nhất còn lại của một thân nhân liệt sỹ tỉnh miền Trung này.